Cung bích
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Danh từ:
- Cửa thầy dạy học: "Cung bích" là một từ Hán Việt cổ, dùng để chỉ nơi thầy giáo dạy học, tức là trường học hoặc nhà dạy học.
- Tường cung điện, tường cao: Nghĩa gốc chỉ bức tường của cung điện, tường cao. Trong văn cảnh giáo dục, nó được dùng như một ẩn dụ về học vấn uyên thâm, khó với tới.
Ví dụ sử dụng
- Danh từ:
- Học trò ngày xưa kính trọng nơi cung bích. (Học trò ngày xưa kính trọng nơi thầy dạy học.)
- Câu chuyện trong Luận Ngữ dùng hình ảnh "cung bích" để ví von đạo đức, học vấn của đức Khổng Tử. (Câu chuyện trong sách Luận Ngữ dùng hình ảnh "tường cung điện" để so sánh đạo đức, học vấn của đức Khổng Tử.)
Các cách sử dụng nâng cao
- "Cung bích" như một ẩn dụ: Thường được dùng trong văn chương cổ để ví von học vấn thâm sâu, đạo đức cao vời của bậc thầy, giống như bức tường cung điện cao kín, khó mà trèo qua hay nhìn thấy bên trong nếu không tìm được cửa vào (tức là không có người dẫn đường, chỉ dạy).
- Học vấn của tiên sinh như cung bích, chúng tôi khó lòng thấu hiểu nếu không được chỉ giáo. (Học vấn của thầy như tường cung điện cao, chúng tôi khó mà hiểu thấu nếu không được dạy bảo.)
Biến thể và từ gần giống
- Cung tường: Từ gốc Hán Việt đồng nghĩa, cũng chỉ bức tường cung điện. "Cung bích" thường xuất phát từ cụm này.
- Tường thành: Chỉ bức tường thành lũy, có nghĩa rộng hơn, không mang sắc thái ẩn dụ về giáo dục đặc trưng như "cung bích".
- Học đường: Trường học, nơi dạy học (nghĩa hiện đại, phổ biến hơn).
Từ đồng nghĩa
- Trường học: Nơi dạy và học.
- Tư thất: Nhà dạy học tư (ngày xưa).
- Giảng đường: Nơi giảng bài, thuyết giảng.
Lưu ý về từ vựng
- Từ cổ, ít dùng: "Cung bích" là một từ Hán Việt cổ, chủ yếu xuất hiện trong các văn bản kinh điển, thơ văn cổ hoặc khi trích dẫn điển tích (như từ sách Luận Ngữ). Trong tiếng Việt hiện đại, từ này rất ít khi được sử dụng trong giao tiếp thông thường.
- Ngữ cảnh sử dụng: Chỉ nên dùng trong các ngữ cảnh văn chương, học thuật bàn về điển cố, giáo dục truyền thống, hoặc khi phân tích các tác phẩm cổ.
- Bởi chữ: Cung tường, chỉ cửa thày dạy học
- Luận ngữ: Tử Cống viết: Thi chí cung tường, tứ chi tường giã, tường giã cập kiên, khuy kiến thất gia chi bảo, phu tử chi tường số nhận, bất đắc kỳ môn chi nhập, bất kiến tông miếu chi mỹ, bách quan chi phú" (Thầy Tử Cống nói rằng: thí dụ tài đức như những bức tường trong cung thất, Tứ tôi là bức tường cao đến vai, nên người ta có thể đứng ngoài nhìn thấy những cái tốt đẹp trong nhà. Thầy tôi là bức tường cao mấy nhận, nếu người ta không tìm được cửa tiến vào thì không thấy cái tốt đẹp trong nhà tông miếu, cùng sự phồn vinh của bá quan)